Luật Công chứng sửa đổi năm 2026 vừa được Quốc hội thông qua với nhiều thay đổi quan trọng, hướng tới đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh chuyển đổi số và phân cấp quản lý.
1. Điều chỉnh định nghĩa công chứng và công chứng viên
Khoản 1 Điều 1 Luật Công chứng sửa đổi 2026 điều chỉnh định nghĩa công chứng và công chứng viên tại khoản 1, khoản 2 của Điều 2 Luật Công chứng 2024 như sau:
1. Công chứng là dịch vụ công do công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện để chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của giao dịch bằng văn bản (sau đây gọi là giao dịch) phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.
Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài thực hiện công chứng giao dịch theo quy định tại Điều 73 của Luật này.
2. Công chứng viên là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật này, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) bổ nhiệm để hành nghề công chứng và thực hiện một số nhiệm vụ chứng thực theo quy định của pháp luật.
Như vậy, quy định mới đã nêu cụ thể việc công chứng phải thực hiện bằng bằng văn bản (trước đây chưa đề cập).Ngoài ra, Luật Công chứng sửa đổi 2026 cũng thay đổi thẩm quyền bổ nhiệm công chứng viên từ Bộ trưởng Bộ tư pháp sang Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để phù hợp với chủ trương phân quyền, phân cấp hiện hành tại Nghị định 121/2025/NĐ-CP.

2. Chỉ quy định trong Luật các giao dịch thuộc diện bắt buộc công chứng
Trước đây, Điều 3 Luật Công chứng 2024 quy định chung rằng:
Điều 3. Giao dịch phải công chứng
1. Giao dịch phải công chứng là giao dịch quan trọng, đòi hỏi mức độ an toàn pháp lý cao và được luật quy định hoặc luật giao Chính phủ quy định phải công chứng.
2. Bộ Tư pháp có trách nhiệm rà soát, cập nhật, đăng tải các giao dịch phải công chứng, chứng thực trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.
Tuy nhiên, Luật Công chứng sửa đổi 2026 quy định:
Điều 3. Giao dịch phải công chứng
1. Giao dịch phải công chứng là giao dịch quan trọng, đòi hỏi điều kiện tham gia giao dịch chặt chẽ, mức độ an toàn pháp lý cao và được luật quy định phải công chứng.
2. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan rà soát, cập nhật, đăng tải danh mục các giao dịch phải công chứng, chứng thực trên cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.
Như vậy, các giao dịch phải công chứng sẽ chỉ được quy định trong Luật, không còn được giao cho Chính phủ quy định nữa.
3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thay Bộ Tư pháp quản lý Công chứng viên
Nhằm thống nhất với quy định về phân cấp, phân quyền quản lý nhà nước tại Nghị định 121/2025/NĐ-CP, Luật Công chứng 2026 sửa đổi một số nội dung quy định Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thay thế Bộ trưởng Bộ tư pháp thực hiện các nhiệm vụ:
– Công nhận tương đương đối với người được đào tạo nghề công chứng ở nước ngoài (sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 11 Luật Công chứng 2024);
– Bổ nhiệm công chứng viên (sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 13 Luật Công chứng 2024);
– Miễn nhiệm công chứng viên (sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 16 Luật Công chứng 2024);
– Bổ nhiệm lại công chứng viên (sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 17 Luật Công chứng 2024).
Ban hành Đề án quản lý, phát triển các tổ chức hành nghề công chứng (sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 19 Luật Công chứng 2024)…
4. Sẽ có lộ trình thực hiện thẩm quyền công chứng giao dịch về bất động sản trong phạm vi toàn quốc
Với Điều 44, Luật sửa đổi 2026 tiếp tục quy định thẩm quyền công chứng giao dịch có đối tượng là bất động sản theo phạm vi tỉnh, thành phố nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở.
Tuy nhiên, bổ sung nội dung đáng chú ý là Chính phủ sẽ quy định lộ trình thực hiện thẩm quyền công chứng giao dịch về bất động sản trong phạm vi toàn quốc sau khi cơ sở dữ liệu công chứng được vận hành và các cơ sở dữ liệu có liên quan được cơ quan chủ quản cơ sở dữ liệu công bố.
5. Công chứng viên không được yêu cầu vừa ký vừa điểm chỉ
Trước đây, khoản 4 Điều 50 Luật Công chứng 2024 quy định việc điểm chỉ có thể được thực hiện đồng thời với việc ký trong những trường hợp sau đây:
– Công chứng di chúc;
– Theo đề nghị của người yêu cầu công chứng;
– Công chứng viên thấy cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho người yêu cầu công chứng.
Tuy nhiên theo quy định mới sửa đổi bởi Luật Công chứng sửa đổi 2026, việc điểm chỉ có thể được thực hiện đồng thời với việc ký theo đề nghị của người yêu cầu công chứng.
Như vậy, công chứng viên sẽ không được tự yêu cầu khách hàng vừa ký vừa điểm chỉ nếu họ không đề nghị.
6. Điều khoản chuyển tiếp
Điều 3 Luật Công chứng sửa đổi 2026 quy định các trường hợp chuyển tiếp khi áp dụng Luật mới từ 01/7/2026 như sau:
– Người đã được bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chứng viên trước ngày 01/7/2026 được tiếp tục hành nghề công chứng và thực hiện các nhiệm vụ chứng thực.
– Việc bổ nhiệm công chứng viên đối với người đã hoàn thành tập sự hành nghề công chứng tại tỉnh, thành phố được sắp xếp với tỉnh, thành phố khác thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố sau khi sắp xếp.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo việc cập nhật, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu công chứng đã có tại địa phương trong thời gian xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng theo quy định của Luật này; chỉ đạo việc kết nối, tích hợp các dữ liệu công chứng tại địa phương với cơ sở dữ liệu công chứng theo quy định của Luật này bảo đảm kịp thời, an toàn, đầy đủ, chính xác.
– Trường hợp công chứng viên được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm mà chưa hành nghề thì việc miễn nhiệm thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đã đề nghị bổ nhiệm công chứng viên đó.
– Trường hợp công chứng viên được Bộ trưởng Bộ Tư pháp miễn nhiệm thì việc bổ nhiệm lại thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đã đề nghị miễn nhiệm công chứng viên đó; trường hợp Bộ trưởng Bộ Tư pháp tự mình miễn nhiệm công chứng viên thì việc bổ nhiệm lại thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi hành nghề cuối cùng của công chứng viên đó.
– Cơ sở dữ liệu công chứng của các địa phương được xây dựng trước ngày 01/7/2026 được tiếp tục quản lý, khai thác, sử dụng cho đến ngày cơ sở dữ liệu công chứng được xây dựng theo quy định của Luật Công chứng sửa đổi 2026 được đưa vào vận hành, sử dụng và các dữ liệu cần thiết đã được đồng bộ đầy đủ, chính xác vào cơ sở dữ liệu công chứng được xây dựng theo quy định của Luật này.
– Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày 01/7/2026, Chính phủ tổ chức rà soát các quy định về giao dịch phải công chứng tại các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành và hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các quy định không đáp ứng yêu cầu về giao dịch phải công chứng.
Trên đây là một số Điểm mới Luật Công chứng sửa đổi 2026.
Nguồn: Luật Việt Nam







