Nghị định 134/2026/NĐ-CP quy định về quyền tác giả gắn với trí tuệ nhân tạo AI

Ngày 06/4/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 134/2026/NĐ-CP, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 17/2023/NĐ-CP về quyền tác giả, quyền liên quan và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 09/4/2026. Trong đó có nhiều quy định mới về quyền tác giả gắn với trí tuệ nhân tạo AI để đáp ứng thực tiễn và sự phát triển của trí tuệ nhân tạo hiện nay cũng như phù hợp với Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2025. Luât Việt An sẽ cập nhật một số nội dung đáng chú ý tại Nghị định 134/2026/NĐ-CP quy định về quyền tác giả gắn với trí tuệ nhân tạo AI.

Nội dung chính bài viết

3 điều kiện phát sinh quyền tác giả, quyền liên quan khi sử dụng trí tuệ nhân tạo AI

3 điều kiện phát sinh quyền tác giả, quyền liên quan khi sử dụng trí tuệ nhân tạo AI

Điều 4 Nghị định 134/2026/NĐ-CP đã bổ sung thêm Điều 5a quy định về việc phát sinh quyền tác giả, quyền liên quan trong trường hợp đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo vào trước Điều 5 Nghị định 17/2023/NĐ-CP.

Theo đó, quyền tác giả và quyền liên quan chỉ phát sinh đối với các sản phẩm (tác phẩm, bản ghi âm, chương trình phát sóng…) có sự hỗ trợ của AI khi đáp ứng đủ 3 điều kiện sau:

Có sự đóng góp đáng kể và mang tính quyết định của con người

Con người phải giữ vai trò chủ đạo trong quá trình sáng tạo. Điều này bao gồm việc:

  • Cung cấp dữ liệu đầu vào, tham số kỹ thuật nguyên gốc hoặc xây dựng tài liệu thiết kế phần mềm.
  • Thiết lập các câu lệnh (prompts) để điều khiển hệ thống AI.
  • Trực tiếp đánh giá, lựa chọn, chỉnh sửa và diễn giải kết quả từ AI.
  • Sắp xếp nội dung, hình thức thể hiện và đưa ra các quyết định về ý đồ nghệ thuật/thẩm mỹ.
  • Quyết định kết quả cuối cùng, đảm bảo sản phẩm phản ánh đúng ý tưởng cá nhân thay vì là sự sắp đặt ngẫu nhiên của thuật toán.

Con người chịu trách nhiệm về nội dung và tính hợp pháp của sản phẩm

Con người phải là thực thể chịu trách nhiệm pháp lý cao nhất đối với nội dung của đối tượng được tạo ra. Không thể “đổ lỗi” cho AI nếu sản phẩm đó vi phạm pháp luật hoặc xâm phạm các quy định hiện hành.

Không xâm phạm quyền đối với dữ liệu đầu vào

Việc sử dụng AI để sáng tạo không được gây phương hại đến quyền tác giả và quyền liên quan của các tác phẩm/đối tượng khác vốn đã được sử dụng làm dữ liệu đầu vào cho hệ thống AI đó.

Quy định này nhằm cụ thể hóa nguyên tắc con người mới là tác giả theo Điều 12a của Luật Sở hữu trí tuệ, đồng thời thích ứng với bối cảnh công nghệ AI ngày càng phổ biến. Như vậy, yếu tố sáng tạo của con người tiếp tục được khẳng định là điều kiện trung tâm để phát sinh quyền tác giả. Quyền chỉ được công nhận khi có sự tham gia mang tính quyết định của con người, bao gồm đóng góp trí tuệ đáng kể, kiểm soát kết quả sáng tạo và chịu trách nhiệm về nội dung. AI được xác định chỉ là công cụ kỹ thuật, không phải chủ thể có quyền, qua đó bảo đảm sự nhất quán với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật sở hữu trí tuệ.

Chứng minh việc sử dụng AI khi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan

Một điểm mới đáng chú ý trong Nghị định 134/2026/NĐ-CP là quy định về việc chứng minh khi có yêu cầu bảo vệ quyền hoặc nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm có dùng AI.

Khi có yêu cầu bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan đối với đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan được sáng tạo, định hình hoặc thực hiện có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo, người sáng tạo, định hình hoặc thực hiện đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan phải chứng minh về việc sáng tạo, định hình hoặc thực hiện của mình và phải kê khai trung thực việc sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.

Theo đó, tài liệu chứng minh này có thể bao gồm:

  • Dữ liệu đầu vào, tham số kỹ thuật hoặc tài liệu thiết kế đối với chương trình máy tính, bản thảo, các bản trung gian, chỉnh sửa trong quá trình sáng tạo;
  • Lịch sử câu lệnh, dữ liệu tương tác, tham số kỹ thuật;
  • Tài liệu mô tả quá trình sáng tạo hoặc các tài liệu hợp pháp khác thể hiện sự đóng góp trí tuệ và sự kiểm soát của con người.

Cách tiếp cận này cho thấy không mặc nhiên phủ nhận vai trò của AI, nhưng yêu cầu làm rõ dấu ấn sáng tạo của con người trong từng trường hợp cụ thể.

Trường hợp sản phẩm AI bị từ chối bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan

Nghị định 134/2026/NĐ-CP cũng đã làm rõ ranh giới giữa “AI hỗ trợ” và “AI tự động”, cụ thể:

  • Trường hợp sản phẩm hoàn toàn do hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo ra hoặc không đáp ứng đầy đủ các điều kiện phát sinh quyền tác giả, quyền liên quan khi sử dụng trí tuệ nhân tạo AI thì không làm phát sinh quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ.
  • Ngược lại, trong trường hợp AI chỉ là công cụ hỗ trợ và con người giữ vai trò quyết định, quyền vẫn có thể phát sinh.

Như vậy, nếu một sản phẩm hoàn toàn do hệ thống AI tự động tạo ra mà không có sự can thiệp, điều chỉnh hoặc định hướng đáng kể từ con người, sản phẩm đó sẽ không làm phát sinh quyền tác giả hay quyền liên quan. Điều này nhằm ngăn chặn việc lạm dụng công nghệ để chiếm hữu tài sản trí tuệ một cách tràn lan mà không dựa trên giá trị lao động thực tế.

Điều kiện sử dụng văn bản và dữ liệu là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đối với AI

Theo Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2025 đã có quy định mới về việc tổ chức, cá nhân được sử dụng văn bản và dữ liệu về đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đã được công bố hợp pháp và công chúng được phép tiếp cận để phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, thử nghiệm, huấn luyện hệ thống trí tuệ nhân tạo, với điều kiện việc sử dụng này không ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ.

Nhằm hướng dẫn nội dung này, Nghị định số 134/2026/NĐ-CP bổ sung vào Mục 3 của Chương III về “Sử dụng văn bản và dữ liệu là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo”. Lần đầu tiên đưa ra khung quy định tương đối cụ thể cho hoạt động khai thác văn bản và dữ liệu phục vụ nghiên cứu, thử nghiệm và huấn luyện AI. Cụ thể:

Điều kiện văn bản và dữ liệu

Văn bản và dữ liệu là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan được sử dụng phải thỏa mãn:

Điều kiện văn bản và dữ liệu là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đối với AI

  • Được công bố hợp pháp phù hợp với quy định;
  • Được tiếp cận thông qua hành vi hợp pháp và từ nguồn hợp pháp;
  • Không hủy bỏ hoặc làm vô hiệu biện pháp công nghệ bảo vệ quyền mà chủ sở hữu quyền thực hiện để bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan của mình.

Điều kiện sử dụng văn bản và dữ liệu

  • Việc sử dụng chỉ nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, thử nghiệm, huấn luyện hệ thống trí tuệ nhân tạo và không nhằm mục đích thương mại;
  • Việc sử dụng không được mâu thuẫn với việc khai thác bình thường văn bản và dữ liệu là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan và không gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan;
  • Kết quả đầu ra của hệ thống trí tuệ nhân tạo không thay thế thị trường tiêu thụ hoặc khai thác bình thường đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan, không tạo ra việc cạnh tranh không lành mạnh đối với việc khai thác, sử dụng đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan.

Quyền bảo lưu của tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan

Tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có quyền:

  • Bảo lưu quyền tác giả, quyền liên quan của mình, không cho phép văn bản và dữ liệu là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan của mình được sử dụng để phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, thử nghiệm, huấn luyện hệ thống trí tuệ nhân tạo;
  • Trừ trường hợp quyền bảo lưu không áp dụng trong trường hợp việc sử dụng văn bản và dữ liệu là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định.

Việc bảo lưu phải được thể hiện thông qua các cơ chế rõ ràng và công khai, như thông tin quản lý quyền ở dạng máy đọc được, các biện pháp bảo vệ công nghệ hoặc tuyên bố thông qua tổ chức đại diện tập thể.

Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sử dụng

  • Lưu giữ hồ sơ kỹ thuật, dữ liệu huấn luyện, dữ liệu sử dụng theo quy định của pháp luật về trí tuệ nhân tạo và sẵn sàng cung cấp thông tin khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phục vụ xác minh, giải quyết tranh chấp, xử lý hành vi vi phạm pháp luật có liên quan;
  • Tôn trọng quyền bảo lưu của tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan.

Nghị định 134/2026/NĐ-CP quy định về quyền tác giả gắn với trí tuệ nhân tạo AI được đánh giá là bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện khung pháp lý về quyền tác giả và quyền liên quan tại Việt Nam, trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ và trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng được ứng dụng rộng rãi. 

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 0933.989.969 để được giải đáp. Hoặc đăng ký sử dụng Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật nhanh để được tư vấn chi tiết. Trân trọng cảm ơn!

Thông tin văn bản

Nghị định 134/2026/NĐ-CP quy định về quyền tác giả gắn với trí tuệ nhân tạo AI

Thông tin

Thuộc tính

Loại văn bản

Ngày ban hành

Ngày hiệu lực

Thông tin

Thuộc tính

Nơi ban hành

Tình trạng

Đang tải thông tin văn bản......

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!

Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chưa thể xem được văn bản gốc.

Để có thể xem được nhiều thông tin và sử dụng các chức năng của website như xem Hiệu lực của Văn bản, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,... Xin vui lòng đăng nhập

Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây

Đang tải thông tin văn bản......

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!

Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chưa thể xem được văn bản gốc.

Để có thể xem được nhiều thông tin và sử dụng các chức năng của website như xem Hiệu lực của Văn bản, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,... Xin vui lòng đăng nhập

Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây

Nghị định 134/2026/NĐ-CP quy định về quyền tác giả gắn với trí tuệ nhân tạo AI

Đang tải thông tin văn bản......

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!

Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chưa thể xem được văn bản gốc.

Để có thể xem được nhiều thông tin và sử dụng các chức năng của website như xem Hiệu lực của Văn bản, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,... Xin vui lòng đăng nhập

Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây

Liên hệ để được hỗ trợ tốt nhất

Bài viết cùng chủ đề

Cách xây dựng, soạn thảo hợp đồng chặt chẽ
Nghị định 96-2026-NĐ-CP hướng dẫn Luật Đầu tư 2025
Bán hàng online không đăng ký kinh doanh sẽ bị phạt năm 2026
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 17/2023/NĐ-CP ngày 26 tháng 4 năm 2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân
Quy định xử lý vi phạm trong thương mại điện tử từ ngày 1/7/2026 theo Luật Thương mại điện tử mới
Luật Thương mại điện tử 2025
Thẩm quyền quyết định xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt thuế
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa
Nghị định số 125- 2020 - NĐ
Không làm thủ tục giải thể công ty có sao không?
Có đất nhưng chưa có nhà, mua nhà ở xã hội được không?

Tìm kiếm