Lao động nữ nghỉ thai sản 06 tháng có được tính vào thời gian làm việc để hưởng phép năm không là thắc mắc của nhiều người lao động sau khi quay trở lại làm việc. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp thông tin chi tiết.
Lao động nữ nghỉ thai sản 6 tháng có được tính phép năm không?
Theo Điều 65 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, thời gian được coi là thời gian làm việc để tính số ngày nghỉ hằng năm của người lao động bao gồm:
– Thời gian học nghề, tập nghề theo quy định tại Điều 61 của Bộ luật Lao động nếu sau khi hết thời gian học nghề, tập nghề mà người lao động làm việc cho người sử dụng lao động.
– Thời gian thử việc nếu người lao động tiếp tục làm việc cho người sử dụng lao động sau khi hết thời gian thử việc.
– Thời gian nghỉ việc riêng có hưởng lương theo khoản 1 Điều 115 của Bộ luật Lao động.
– Thời gian nghỉ việc không hưởng lương nếu được người sử dụng lao động đồng ý nhưng cộng dồn không quá 01 tháng trong một năm.
– Thời gian nghỉ do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nhưng cộng dồn không quá 6 tháng.
– Thời gian nghỉ do ốm đau nhưng cộng dồn không quá 02 tháng trong một năm.
– Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
– Thời gian thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà được tính là thời gian làm việc theo quy định của pháp luật.
Thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động.
- Thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc nhưng sau đó được kết luận là không vi phạm hoặc không bị xử lý kỷ luật lao động.
Như vậy, lao động nữ nghỉ thai sản 6 tháng vẫn được tính phép năm. Cứ làm đủ 12 tháng/năm, người lao động có 12 ngày phép năm. Cứ đủ 5 năm thì được cộng thêm 1 ngày phép năm. (Theo Điều 113 và Điều 114 Bộ luật Lao động 2019, số 45/2019/QH14)

Lao động nữ nghỉ thai sản 6 tháng có được tính phép năm không? (Ảnh minh họa)
- Chế độ thai nghỉ thai sản đối với người lao động được quy định như thế nào?
Theo Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, số 41/2024/QH15, người lao động tham gia BHXH bắt buộc sẽ được hưởng chế độ thai sản nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
- Lao động nữ đi khám thai.
Theo Điều 51 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, số 41/2024/QH15, lao động nữ mang thai được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản để đi khám thai tối đa 05 lần, mỗi lần không quá 02 ngày. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi khám thai được tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ hằng tuần.
- Lao động nữ khi sảy thai, phá thai, thai chết trong tử cung, thai chết trong khi chuyển dạ, thai ngoài tử cung
Theo Điều 52 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, số 41/2024/QH15, tùy vào tuổi thai mà người lao động sẽ được nghỉ từ 10 đến 50 ngày.
- Lao động nữ khi sinh con
Theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật Lao động 2019, số 45/2019/QH14 được sửa đổi bổ sung bởi Luật Dân số 2025, số 71/2025/QH15 quy định về nghỉ thai sản như sau:
Lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng
Trường hợp sinh con thứ hai, lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 07 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng.
Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng
- Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ.
Theo Điều 54 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, số 41/2024/QH15, lao động nữ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản như những người lao động khác cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho người mẹ nhưng không vượt quá 06 tháng.
Theo Điều 55 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, số 41/2024/QH15 người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản từ khi nhận con cho đến lúc con đủ 06 tháng tuổi.
- Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi.
Theo Điều 56 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, số 41/2024/QH15, người nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi được nghỉ chế độ thai sản đến khi con nuôi đủ 06 tháng tuổi.
- Lao động nữ khi thực hiện các biện pháp tránh thai
Theo Điều 57 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, số 41/2024/QH15, lao động nữ khi thực hiện các biện pháp tránh thai được nghỉ 07 ngày, người lao động thực hiện biện pháp triệt sản được nghỉ không quá 15 ngày.
- Lao động nam có vợ sinh con
Theo khoản 2 Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, số 41/2024/QH15, lao động nam có vợ sinh con được nghỉ từ 05 đến 14 ngày làm việc, nếu sinh ba trở lên thì có thể nghỉ dài hơn.
- Chưa hết thời gian nghỉ thai sản mà muốn quay trở lại làm việc được không?
Tại khoản 4 Điều 139 Bộ luật Lao động 2019, số 45/2019/QH14 được sửa đổi bổ sung bởi khoản 1 Điều 29 Luật Dân số 2025, số 113/2025/QH15 quy định về nghỉ thai sản như sau:
- Lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng; trường hợp sinh con thứ hai, lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 07 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng.
Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.
- Trong thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
- Hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có nhu cầu, lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương sau khi thỏa thuận với người sử dụng lao động.
- Trước khi hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định, lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất được 04 tháng nhưng người lao động phải báo trước, được người sử dụng lao động đồng ý và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động.
Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
- Lao động nam khi vợ sinh con, người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, lao động nữ mang thai hộ và người lao động là người mẹ nhờ mang thai hộ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Như vậy, lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất được 04 tháng nhưng người lao động phải báo trước, được người sử dụng lao động đồng ý và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động.



















